Nhà thuốc Xuân Bách

Đặc trị bỏng, loét ngoài da, loét tỳ đè do nằm lâu, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da

Đặc trị bỏng, loét ngoài da, loét tỳ đè do nằm lâu, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da COTRUDO

Thuốc bôi kháng khuẩn hoặc ức chế vi khuẩn vết thương bỏng

Sau khi tiến hành sơ cứu, việc dùng các thuốc bôi điều trị bỏng tại chỗ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Quyết định sự thành công trong quá trình điều trị bỏng.

1. Tiêu chuẩn một thuốc bôi bỏng kháng khuẩn hoặc ức chế vi khuẩn dùng đắp tại chỗ

  • Không gây hoặc ít đau.
  • Không gây dị ứng tại chỗ hay toàn thân.
  • Không có tác dụng phụ.
  • Có tác dụng với vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tại vết bỏng.
  • Thuốc có khả năng thấm sâu vào vết bỏng.
  • Không gây hại cho mô lành, tế bào lành.

2. Các thuốc bôi bỏng có tác dụng kháng khuẩn

Đây là nhóm thuốc có chỉ định tương đối rộng rãi khi điều trị vết thương bỏng (do quá trình nhiễm khuẩn gần như gắn liền với vết bỏng). Có thể dùng trong sơ cấp cứu và xử trí kỳ đầu vết thương bỏng. Đối với y tế cơ sở, đây là nhóm thuốc có thể dùng trong suốt quá trình điều trị tại chỗ vết thương bỏng.

  • Các dung dịch sát khuẩn như Bétadine 10% (chứa iod), chlorhecidin, lactacyd, chloramin 2%, dung dịch thuốc tím 1/4000, nitrat bạc dung dịch 025-0,5%…
  • Các kháng sinh dạng dung dịch hoặc mỡ, cream như dung dịch penicilin G 0,25%, neomycin 0,4%, mỡ gentamycin, tetracyclin….
  • Các hóa chất khác: Acid boric, acid acetic dung dịch 2-4%.
  • Cream mafenid (sulfamilon), silver sulfadiazin.

3. Một số thuốc bôi bỏng được dùng hiện nay:

Betadin

Phức hợp hữu cơ dạng dung dịch 10%, dạng thuốc mỡ. Thuốc được coi là iod hữu cơ, có tác dụng giải phóng iod tự do từ từ, duy trì thời gian tác dụng dài. Thuốc ít gây đau so với dung dịch iod vô cơ. Tuy nhiên thuốc có tác dụng phụ như gây đau xót (nhất là khi dùng dung dịch đậm đặc), dùng diện rộng kéo dài  gây ảnh hưởng đến tuyến giáp. Cần thận trọng cho trẻ em nhỏ, dùng diện rộng trên 30% và dùng kéo dài. Không dùng cho trẻ em dưới 1 tháng tuổi, phụ nữ có thai và đang cho con bú.

Nitrat bạc dung dịch 0,25-0,5%

Có tác dụng rộng nhiều loại vi khuẩn, đặc biệt với trực khuẩn mủ xanh. Thuốc không nên dùng diện rộng kéo dài vì tác dụng hấp thụ bạc vào cơ thể, gây rối loạn điện giải. Thuốc khi gặp ánh sáng đổi màu sẫm, làm đen bẩn đồ vải.

Axid boric dạng dung dịch 2-4%, dạng mỡ 5-10% hoặc tinh thể

Thuốc có tác dụng tốt với trực khuẩn mủ xanh.

Sulfamilon (mafenid) dạng mỡ 11,2%

có tác dụng tốt với vi khuẩn gram âm, nhất là trực khuẩn mủ xanh. Thuốc ngấm qua hoại tử bỏng xuống lớp sâu. Vết thương được bôi kín thuốc 2 lần trong ngày sau đó để hở không băng. Thuốc có nhược điểm gây đau kéo dài 1-2 giờ, gây nhiễm acid chuyển hóa, không dùng thuốc cho bệnh nhân có rối loạn hô hấp.

Silver sulfadiazin 1% (biệt dược như silvaden, silvirin, sulfafiazin bạc…)

Thuốc gồm 2 thành phần chủ yếu: muối bạc (tác dụng sát khuẩn) và sulfadiazin (chất ức chế cạnh tranh với acid floric, tổn thương màng tế bào vi khuẩn). Sau khi đắp lên vết bỏng thuốc có vai trò như một kho chứa ion bạc. Sự phân ly của thuốc xảy ra liên tục, từ từ. hầu hết ion bạc tự do được giải phóng với nồng độ đủ độc cho vi khuẩn.

Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng mạnh, với nhiều loại khuẩn gram dương. Thuốc có tác dụng kháng nấm. Thuốc có thể bôi diện rộng, sau đó để hở hoặc băng kín 8-12-24 giờ thay băng 1 lần. Thuốc nếu bị phơi ra ánh sáng sẽ chuyển màu xám kim loại do bạc bị ô xy hóa, nhưng không làm bẩn quần áo, vật dụng và da. Khi đắp thuốc kết hợp với dịch vết thương tạo chấy gel protein dày vài mm ở bề mặt, có thể bóc lớp gel này dễ.

Khả năng hấp thụ của thuốc kém, thuốc không gây đau.

Nhược điểm:

Thuốc làm mềm hoại tử, làm giảm sự tiêu hủy và rụng hoại tử. Do khả năng ngấm sâu vào hoại tử kém, thuốc kiểm soát nhiễm khuẩn vết bỏng sâu, nhất là khi vi khuẩn phát triển ở lớp hoại tử kém.

– Việc dùng thuốc phổ biến và kéo dài đã làm xuất hiện tình trạng kháng thuốc ở một số vi khuẩn.

– Thuốc không nên dùng cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và trẻ sơ sinh (có thể gây độc cho gan, thận).

Thuốc bỏng của Nhà thuốc Xuân Bách?

Thuốc trị bỏng và loét ngoài da Xuân Bách
Thuốc trị bỏng và loét ngoài da Xuân Bách

Thuốc trị bỏng của Nhà thuốc Xuân Bách đã được chứng nhận an toàn và hiệu quả. Được sử dụng rộng rãi bởi nhiều y bác sĩ trên toàn quốc. Với các ưu điểm sau:

  • Thuốc được bào chế hoàn toàn từ dược liệu tự nhiên, an toàn, dễ sử dụng.
  • Chi phí điều trị thấp.
  • Khi sử dụng bệnh nhân chỉ cần bôi thuốc lên vết bỏng, không cần băng bó, dễ sử dụng giảm khó khăn cho bệnh nhân.
  • Thuốc có thời gian điều trị ngắn, hiệu quả điều trị có thể thấy rõ bằng mắt thường sau 3-4 ngày sử dụng thuốc.
  • Đặc biệt, thuốc có khả năng ngăn ngừa sẹo nên giúp cho bệnh nhân có da đẹp sau khi sử dụng.
Trẻ em bị bỏng bôi thuốc gì?
Thuốc trị bỏng của Nhà thuốc Xuân Bách

Đặc trị bỏng, vết loét ngoài da, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da.

Thuốc trị bỏng Xuân Bách

Đặc trị bỏng, vết loét ngoài da, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da.

Thuốc có tác dụng rất tốt trong việc lành nhanh vết thương ngoài da, thời gian điều trị ngắn, chỉ cần bôi, không cần băng và kết quả của sau điều trị là da đẹp, không để lại sẹo.

Công dụng Hiệu quả sử dụng