Nhà thuốc Xuân Bách

Đặc trị bỏng, loét ngoài da, loét tỳ đè do nằm lâu, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da

Đặc trị bỏng, loét ngoài da, loét tỳ đè do nằm lâu, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da COTRUDO

Hoại tử ướt và hoại tử khô do bỏng

Bắt đầu từ bỏng độ III, vết bỏng đều có biểu hiện của hoại tử. Việc xác định hoại tử ướt và hoại tử khô giúp xác định độ sâu của bỏng đồng thời tìm được biện pháp điều trị với theo cấp độ bỏng.

Hoại tử ướt và hoại tử khô là 2 dấu hiệu nhận biết cơ bản để đánh giá phân cấp độ sâu tổng thương do bỏng.

1. Hoại tử ướt

Mô bệnh học: Thấy sợi collagen trương, tách rời, dịch nề xám, có hiện tượng lấp quản lòng mạch. Nguyên sinh chất thế bào biểu mô đục, vón hạt, Giới hạn dưới của hoại từ không đều, không rõ.

Lâm sàng: Đám da hoại tử màu trắng bệch, đỏ xám hoặc hoa vân. Da hoại tử gồ cao so với da lành, sờ cảm giác ướt, mềm. Xung quanh nề, sung huyết rộng. Có thể có nốt phổng vòm dày, đáy là da hoại tử trắng bệch. Mất cảm giá đau (tận cùng thần kinh bị hủy hoại).

Diễn biến: Hoại tử ướt nổi bật là quá trình viên xuất tiết, viêm nhiễm lan tràn. Viêm mủ sớm ở ngày thứ 10-14 sau bỏng do enzym hủy protein của vi khuẩn, của tế bào. Hoại tử chuyển màu xanh sẫm, sau đó tan rữa, rụng từ ngày 15-20 sau bỏng. Dưới da hoại tử ướt là lớp mỡ, dịch mủ xám đục, nhiều sợ fibrin dính chặt.

Hoại tử rụng sẽ hình thành mô hạt.

2. Hoại tử khô

Mô bệnh học: Các phần da hoại tử mất kiến trúc, hình thể, tạo thành một khối đông đặc. Sợi keo dính thành dải, mạch máu răn rúm, đầy máu. Ranh giới hoại tử rõ ràng.

Lâm sàng: Hoại tử khô biểu hiện đám da chắc, khô, màu đen hoặc vàng thui hoặc xám. Da lõm xuống so với da lành, sờ khô, cứng thô ráp. Xung quang là viền hẹp da màu đỏ, nề. Có thể hiện tượng lấp quản: qua lớp hoại tử thấy hình lưới mao mạc dưới da tắc, đông vón.

Mấy cảm giác đau.

Diễn biến: hoại tử khô không tan rã mà khô đét rồi rụng cả khối, hình thành mô hạt. Hoại tử khô có thể chuyển thành hoại tử ướt và ngược lại. Hoại tử ướt là môi trường thuận lợi vi khuẩn phát triển, nhất là khi quá trình viêm mủ xảy ra (tương ứng toàn thân thường nặng).

Khi hoại tử rụng, sốt có thể giảm 1-3 độ C.

Mô hạt: sau khi hoại tử rụng, hình thành mô hạt ở ngày 10-12 sau bỏng.

Mô hạt đẹp: Có màu đỏ tươi, mịn, phẳng, rớm máu đều khi thay băng, ít dịch mủ, bờ mép vết thương biểu mô hóa tốt.

Có thể có mô hạt phù nề (do thiểu dưỡng), mô hạt xơ hóa, xuất huyết, hoại tử thứ phát do rối loạn tuần hoàn và dinh dưỡng thường gặp nơi vết bỏng bị tỳ đè. Biểu hiện sớm của hoại tử thứ phát là vết thương se khô, tím rồi chuyển màu đen, hoại tử, đi kèm trạng thái toàn thân nặng lên rõ rệt.

Đặc trị bỏng, vết loét ngoài da, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da.

Thuốc trị bỏng Xuân Bách

Đặc trị bỏng, vết loét ngoài da, côn trùng đốt, làm lành nhanh các vết thương ngoài da.

Thuốc có tác dụng rất tốt trong việc lành nhanh vết thương ngoài da, thời gian điều trị ngắn, chỉ cần bôi, không cần băng và kết quả của sau điều trị là da đẹp, không để lại sẹo.

Công dụng Hiệu quả sử dụng